2
4
Cả người tôi cứng đờ, máu như đông lại trong khoảnh khắc.
Giọng nói phía sau là của bác hai tôi – Tôn Kiến Quân.
Ba tôi có năm anh em trai, ông ấy là con thứ hai, cũng là người khôn ngoan và độc miệng nhất.
Ngón tay tôi đang cầm lấy chiếc sườn xám vì dùng sức quá mức mà trở nên trắng bệch.
Luật sư Trương Minh cùng người đi cùng cũng lập tức nín thở.
Tôi buộc bản thân phải bình tĩnh, từ từ quay người lại.
Cố gắng nặn ra một nụ cười còn khó coi hơn cả khóc.
“Bác hai, bác đến đây làm gì ạ?”
Tôn Kiến Quân khoanh tay, tựa nghiêng vào khung cửa, ánh mắt lướt qua tôi và tủ quần áo đang mở.
“Tao để quên chùm chìa khóa.”
“Mày đang làm gì thế?”
Tim tôi đập loạn, nhưng mặt vẫn cố tỏ ra bình tĩnh.
“À, con chuẩn bị dọn đi mà. Nên gọi hai anh thợ đến giúp đóng gói mấy bộ sườn xám bà để lại.”
Dưới ánh đèn, những bộ sườn xám lặng lẽ treo đó, trông chỉ như đống quần áo cũ bình thường.
Bác hai bật cười khinh khỉnh, ánh mắt đầy vẻ coi thường.
“Chỉ cái đống đồ rách nát này, đáng để thuê người đến chuyển à?”
Tôi cụp mắt xuống, giọng hạ thấp đi vài phần.
“Dù sao cũng là kỷ vật bà để lại.”
Tôn Kiến Quân có vẻ chẳng hứng thú nhìn thêm, buông một câu qua loa.
“Được rồi, vậy mày làm nhanh lên. Khi đi nhớ để chìa khóa cổng trên bàn trong phòng khách.”
Nói xong, ông ta quay người rời đi, bước chân dứt khoát không chút do dự.
Mãi đến khi tiếng bước chân hoàn toàn biến mất ở tầng dưới, ba chúng tôi mới như vừa được kéo lên từ dưới nước, đồng loạt thở phào thật dài.
Hai chân tôi bủn rủn, suýt chút nữa không đứng vững, may mà Trương Minh kịp đỡ tôi một cái.
“Cô Tôn, cô không sao chứ?”
Tôi lắc đầu, lưng sớm đã ướt đẫm mồ hôi lạnh.
Trương Minh nhìn về phía cửa, như đang suy nghĩ gì đó.
“Bác hai cô… có vẻ khá tin tưởng cô đấy.”
Tôi kéo khóe môi, cười khổ một tiếng.
“Ông ấy yên tâm sao?”
“Ông ấy yên tâm vì nghĩ trong căn nhà này chẳng còn thứ gì đáng giá với ông ấy nữa.”
Hôm qua sau khi đưa tang về, ông ta đã viện cớ tìm đồ, lục tung cả căn nhà, kể cả phòng bà, không chừa một ngóc ngách nào.
Ông ta tin chắc rằng bà không để lại cho tôi bất cứ thứ gì.
Còn mấy bộ “đồ rách” sườn xám kia, trong mắt ông ta, e rằng đến người thu mua ve chai cũng chẳng thèm lấy.
Bà có năm người con trai, ba tôi là con cả, mất sớm nhất.
Bốn người còn lại, ngoài việc ganh đua nhau thì chỉ biết tính toán tài sản, quanh năm suốt tháng chẳng bao giờ đến thăm bà, chỉ mỗi dịp lễ tết mới xách chút trái cây đến, ngồi chưa nóng chỗ đã vội vàng đi.
Bà thấu hết mọi sự.
Lúc còn trẻ, bà là tiểu thư khuê các chính hiệu, của hồi môn phong phú, lại giỏi tính toán, trong tay giữ không ít báu vật.
Nhưng bà quá hiểu bản tính của những người con trai mình.
Bà tôi thường nói: “Đừng bao giờ trông chờ vào máu mủ ruột thịt. Con người mà đã xấu bụng, thì còn tàn độc hơn cả lang sói. Việc gì cũng phải để lại cho bản thân chút thể diện và con đường sống cuối cùng.”
Thế nên, bà không nói gì, cũng không để lộ điều gì.
Ngay cả tôi, đứa cháu gái lớn lên bên bà từ bé, cũng chưa từng được thấy những báu vật bà cất kỹ dưới đáy rương.
Tôi chỉ biết, thứ bà yêu quý nhất mỗi ngày, chính là tủ sườn xám này.
Bà thường lấy chúng ra, dùng loại vải mềm nhất để lau từng chút một.
Giờ thì tôi đã hiểu.
Bà đâu phải đang lau quần áo, mà là đang vuốt ve cả ngọn núi vàng bà để lại cho tôi – đủ để tôi an thân lập nghiệp suốt đời.
Hai mươi bộ sườn xám ấy, chỉ cần đem một bộ ra ngoài thôi, cũng đủ để tôi đổi lấy mười căn nhà trong thành phố này.
Chúng tôi không dám trì hoãn nữa, động tác nhanh hơn hẳn lúc đầu.
Tôi vừa cẩn thận đưa từng bộ sườn xám cho luật sư Trương, vừa hạ thấp giọng hỏi anh ấy:
“Luật sư Trương… nếu như… tôi nói là nếu như, mấy bác tôi thực sự phát hiện ra bí mật của mấy bộ sườn xám này, mà họ đến tranh giành, thì tôi có phải… không còn quyền thừa kế nữa không?”
Bàn tay đang đỡ sườn xám của Trương Minh khựng lại một nhịp.
Anh ngẩng đầu nhìn tôi, ánh mắt kiên định lạ thường.
“Cô Tôn, cô yên tâm.”
“Những bộ sườn xám này, mãi mãi chỉ thuộc về cô.”
Tôi sững sờ.
Anh cẩn thận đặt bộ sườn xám vào thùng đựng chuyên dụng, rồi mới chậm rãi lên tiếng.
“Lúc sinh thời, cụ bà thật ra đã lập hai bản di chúc.”
“Một bản là bản tôi công bố hôm qua, về việc phân chia nhà đất. Còn một bản khác, là về hai mươi bộ sườn xám này – trong đó ghi rõ, tất cả đều chỉ thuộc về cô, Tôn Tiểu Nhã.”
Tim tôi run lên một nhịp rõ rệt.
“Vậy… vậy tại sao hôm qua anh không đưa ra luôn?”
Khóe môi Trương Minh cong lên, lộ ra một nụ cười đầy thấu hiểu.
“Vì cụ bà đã tính trước rồi. Nếu tôi tách riêng mấy bộ sườn xám này thành một bản di chúc độc lập, thì cho dù mấy người bác của cô có ngu đến đâu, cũng sẽ lập tức nhận ra giá trị thật sự của chúng. Khi đó, mới là rắc rối thực sự.”
“Đằng nào chính miệng họ cũng đã nói đây là ‘đống quần áo cũ’ để lại cho cô, thì tôi cứ thuận nước đẩy thuyền thôi.”
“Bản di chúc này, chính là lớp bảo hiểm cuối cùng cụ bà để lại cho cô. Trong trường hợp cô không thể giữ nổi số đồ này, hoặc bọn họ trở mặt, thì khi đó chúng ta đưa ra cũng chưa muộn.”
Bà ơi.
Người bà tốt bụng của con.
Bà không chỉ lo liệu từ lúc khởi đầu, mà đến cả quá trình và cái kết, cũng đã thay con sắp sẵn mọi con đường.
Nước mắt tôi bỗng trào ra, tôi vừa định nói lời cảm ơn với luật sư Trương.
Thì bất ngờ, giọng nói của bác hai Tôn Kiến Quân lại quay trở lại trước cửa!
“Tiểu Nhã, bác hai nghĩ lại rồi…”
“Mấy bộ sườn xám này, con giữ một nửa là được rồi.”
“Để lại ở nhà cũ một nửa đi, coi như là kỷ niệm cho bác hai.”
Tôi và Trương Minh lập tức khựng lại.
5
Tôn Kiến Quân đang đứng ở cửa, ánh mắt dán chặt vào mấy thùng chứa chuyên dụng đã được niêm phong.
Tôi cố kìm nén nhịp tim đang đập loạn, trong đầu chỉ còn vang lên một câu.
Bà từng nói, càng gặp sóng to gió lớn, càng phải ngồi vững trên mũi thuyền.
Tự mình rối loạn trận tuyến, là điều tối kỵ trong binh pháp.
Tôi xoay người lại, gương mặt còn hiện rõ vẻ khó xử và áy náy đúng lúc, không quá không ít.
“Bác hai, sao bác lại quay lại ạ?”
Tôn Kiến Quân không thèm để ý đến tôi, ông ta bước thẳng vào nhà, đi một vòng quanh mấy cái thùng, rồi đưa tay gõ lên lớp kim loại lạnh lẽo.
Tiếng gõ trầm đục vang lên, như dội thẳng vào tim tôi.
“Tôi nghĩ rồi, mấy bộ sườn xám này, vẫn nên để lại một nửa ở nhà cũ. Để tôi giữ giúp cho.”
Tôi nhìn sang Trương Minh, cầu cứu anh ấy bằng ánh mắt.
Trương Minh, vẫn đeo khẩu trang, lập tức hiểu ý. Anh tiến lên một bước, chắn trước mặt tôi, giọng nói mang phong thái rất chuyên nghiệp.
“Thưa ông, chúng tôi sắp phải rời đi. Phiền ông nhường đường một chút.”
Lúc này, ánh mắt của Tôn Kiến Quân mới rời khỏi mấy cái thùng, bắt đầu đánh giá Trương Minh từ trên xuống dưới.
“Anh là ai?”
“Tôi là người phụ trách bên công ty chuyển nhà mà cô Tôn thuê.”
Tôn Kiến Quân bật cười lạnh.
“Công ty chuyển nhà? Tôi thấy là ổ trộm thì đúng hơn! Thông đồng với nhau, định dọn sạch đồ nhà tôi à?”
Câu này quả thật khó nghe.
Tôi siết chặt nắm tay, nhưng vẫn không thể nổi giận.
Tôi hít một hơi thật sâu, gương mặt càng lộ rõ vẻ khó xử.
“Ôi trời, bác hai, thế giờ phải làm sao đây…”
Tôi chỉ vào mấy cái thùng, vẻ mặt đầy tiếc nuối và bối rối.
“Bác xem, mấy cái thùng này đều là hàng đặt riêng. Các anh thợ nói, phần niêm phong dùng keo ép đặc biệt, chỉ dùng một lần. Tiền công đóng gói, với cả chi phí vật liệu làm thùng này, đắt lắm đó.”
Chân mày Tôn Kiến Quân khẽ nhíu lại, rất khó nhận ra.
“Nếu giờ phải mở ra lại, mấy anh ấy bảo… coi như là dịch vụ phát sinh, phải tính thêm tiền.”
Đúng như tôi đoán, ông ta hỏi ngay:
“Thêm bao nhiêu?”
Tôi không trả lời.
Trương Minh đẩy nhẹ gọng kính vàng trên sống mũi,
Rồi lấy điện thoại ra, giả vờ bấm mấy con số trên máy tính.
“Căn cứ theo bảng giá công ty, phí mở thùng khẩn cấp là ba trăm một thùng.”
“Năm thùng là một ngàn năm trăm.”
“Vì ông muốn lấy một nửa số quần áo, chúng tôi phải kiểm đếm lại, ghi sổ, nhập kho mới. Công ghi nhận này tính theo số lượng, mỗi món năm chục. Mười bộ là năm trăm.”
“Rắc rối nhất là đóng gói lại. Vì cần dùng thêm vật liệu niêm phong mới và máy ép keo, nên công và vật tư là năm trăm một thùng, tổng cộng năm thùng là hai ngàn năm trăm.”
Trương Minh ngẩng đầu lên, báo ra con số cuối cùng.
“Tổng cộng, bốn ngàn năm trăm tệ.”
“Nếu ông xác nhận muốn mở thùng, xin hỏi thanh toán bằng tiền mặt hay chuyển khoản?”
Mặt Tôn Kiến Quân lập tức biến sắc.
Bốn ngàn năm trăm tệ.
Đối với ông ta mà nói, không phải không thể chi, nhưng khoản này quá phí phạm.
Bỏ ra bốn ngàn năm, chỉ để lấy lại mười bộ mà miệng ông gọi là “đống rách nát” sao?
Ông ta đâu có điên.
Đúng lúc, tôi khẽ “ôi” một tiếng, gương mặt đầy vẻ ưu phiền.
“Bác hai ơi, mắc quá. Hay là… thôi vậy nhé?”
Càng thấy tôi nói vậy, nghi ngờ trong lòng ông ta lại càng lớn.
Nhưng ông ta lại tiếc khoản bốn nghìn rưỡi kia.
Gương mặt ông ta lúc thì tái xanh, lúc lại trắng bệch.
Tôi lạnh lùng cười thầm trong lòng.
Bà đã nói đúng, “Người nghèo không đáng sợ, đáng sợ là kẻ nghèo tâm. Kẻ nghèo tâm, chỉ vì chút lợi lộc cỏn con mà mê muội, chẳng phân rõ phải trái.”
Bác hai tôi, chính là loại người nghèo tâm điển hình.
Tôi quyết định châm thêm một mồi lửa nữa.
Tôi cắn môi, làm ra vẻ liều mình, nói với ông ta:
“Bác hai, nếu bác thật sự muốn giữ lại làm kỷ niệm, cũng được thôi.”
“Nhưng bốn nghìn rưỡi này, chẳng lẽ để một mình cháu gánh hết?”
“Bác lấy mười bộ, là đúng một nửa rồi. Vậy thì chi phí cũng chia đôi, bác trả hai ngàn hai trăm rưỡi, được chứ ạ?”
6
“Hai ngàn hai trăm rưỡi?”
Ông ta như mèo bị dẫm đuôi, gào lên the thé.
“Tôn Tiểu Nhã! Mày cướp tiền à?!”
“Tao bỏ hơn hai ngàn, chỉ để lấy mấy miếng giẻ rách này? Mày tưởng tao ngu như mày chắc?!”
Đây chính là câu tôi đang đợi.
Tôi cúi đầu, hàng mi dài che khuất mọi biểu cảm, giọng mang theo chút ấm ức và nghẹn ngào.
“Thì ra trong lòng bác hai, kỷ niệm của bà… chỉ đáng giá ngần ấy thôi sao.”
“Cháu cứ nghĩ, bác thật lòng không nỡ rời xa bà.”
“Giờ bác cũng nói mấy bộ đồ này không đáng tiền, vậy thôi ạ. Kẻo bác vì đống ‘giẻ rách’ này mà phải tốn tiền oan, lại buồn lòng.”
Từng câu từng chữ tôi nói, đều vì nghĩ cho ông ấy.
Nhưng từng câu từng chữ ấy, cũng như tát vào mặt ông ta không thương tiếc.
Ông ta bị tôi chặn họng đến không thốt nên lời.
Mặt đỏ bừng như gan lợn.
Muốn nổi khùng, lại chẳng có lý do.
Nói mấy bộ sườn xám này đáng giá? Vậy thì phải bỏ tiền.
Nói không đáng giá? Vậy thì chẳng còn lý do gì để giữ lại nữa.